Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn

Sở Nông nghiệp và Môi trường

Câu hỏi:
Hỏi về chính sách miễn, giảm thuế chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với người dân tộc thiểu số
Nội dung:
Vợ tôi là người dân tộc Nùng, hộ khẩu thường trú tại khu Ga Nam, xã Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn. Vợ tôi được em trai cho một thửa đất nông nghiệp tại thôn Làng Đồn xã Chi Lăng. Vị trí thửa đất phù hợp với quy hoạch nên đất ở của địa phương. Vậy khi vợ tôi đăng ký làm hồ sơ xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất của thửa đất đó nên đất ở thì có được hưởng chính sách miễn, giảm thuế theo quy định của nhà nước không.( cụ thể theo khoản 1 Điều 19 nghị định số 103/2024/NĐ-CP) vì thửa đất và hộ khẩu thường trú nằm ở 2 thôn khác nhau nhưng cùng trên địa bàn xã Chi Lăng, như vậy có được hưởng chính sách miễn giảm không. Và có văn bản, quy định nào áp dụng địa bàn cấp thôn hay xã để được hưởng chính sách miễn giảm thuế sdđ không.
Người gửi: Nguyễn văn Thông
Địa chỉ: 11 đường khu ga
Trả lời:
  • Kính gửi: ông Nguyễn Văn Thông

    Sau khi xem xét nội dung ý kiến, trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật về đất đai, Sở Nông nghiệp và Môi trường trả lời như sau:

    - Tại điểm c khoản 1 Điều 157 Luật Đất đai quy định:

    “Điều 157. Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất

    1. Việc miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được thực hiện trong các trường hợp sau đây: …

    c) Đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng đất được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của Chính phủ;…”

    - Tại Điều 17 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a và điểm d khoản 5 Điều 1 Nghị định 291/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 của Chính phủ):

    “Điều 17. Nguyên tắc thực hiện miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với các đối tượng được miễn, giảm tiền sử dụng đất

    1. Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 18, Điều 19 Nghị định này chỉ được miễn hoặc giảm một lần tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất ở khi được Nhà nước giao đất để làm nhà ở hoặc được phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất khác sang đất ở hoặc được công nhận vào mục đích đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Việc miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân là người nghèo, người dân tộc thiểu số chỉ áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân sinh sống (thường trú) tại nơi có đất; hồ sơ miễn, giảm tiền sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    4. Việc miễn, giảm tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện trực tiếp với đối tượng được miễn, giảm…

    8. Đối với việc xác định miễn, giảm tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân thì địa bàn (vùng) có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn (vùng) có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn quy định tại Điều 18, Điều 19 Nghị định này là thôn, xã theo quy định hoặc quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc của cơ quan, người được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, phân cấp, ủy quyền.

    Việc xác định người nghèo được thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc xác định hộ gia đình hoặc cá nhân là người dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định hoặc quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Danh mục địa bàn được hưởng ưu đãi tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 18, Điều 19 Nghị định này chỉ áp dụng đối với địa bàn có địa giới hành chính cụ thể.”

    - Tại điểm điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định:

    “Điều 18. Miễn tiền sử dụng đất

    b) Người nghèo, hộ gia đình hoặc cá nhân là người dân tộc thiểu số sinh sống tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

    - Tại Điều 19 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2026 (được sửa đỏi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 và khoản 11 Điều 13 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ) quy định:

    “Điều 19. Giảm tiền sử dụng đất

    1. Giảm 50% tiền sử dụng đất đối với các trường hợp sau:

    a) Người nghèo, hộ gia đình hoặc cá nhân là người dân tộc thiểu số sinh sống tại các địa bàn không thuộc địa bàn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định này.

    b) Giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở và không có chỗ ở nào khác trong địa bàn đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất bị thu hồi.

    6. Căn cứ vào Phiếu chuyển thông tin do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông hoặc cơ quan ký hợp đồng BT (trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT) hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin chuyển đến, trong đó có thông tin về: giá đất tính tiền sử dụng đất, đối tượng, diện tích, mức giảm tiền sử dụng đất, cơ quan thuế tính số tiền sử dụng đất phải nộp và số tiền sử dụng đất được giảm. Việc giảm tiền sử dụng đất được thực hiện cùng với việc tính tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định tại Điều 20 Nghị định này.”.

    Ngoài ra, thực hiện Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ, ngày 20/6/2026 UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Quyết định số 28/2026/QĐ-UBND quy định về phân cấp trong lĩnh vực đất đai theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và quy định trình tự, thủ tục hành chính quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026), trong đó đã phân cấp thẩm quyền việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cá nhân cho Chủ tịch UBND cấp xã[1].

    Như vậy, trường hợp hộ gia đình hoặc cá nhân là người dân tộc thiểu số sinh sống tại các địa bàn không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được giảm 50% tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc giảm tiền sử dụng đất nêu trên phải đáp ứng các nguyên tắc theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó lưu ý việc giảm tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân là người dân tộc thiểu số chỉ áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân sinh sống (thường trú) tại nơi có đất.

    Để đảm bảo việc áp dụng chính sách pháp luật về đất đai theo đúng quy định đối với từng trường hợp cụ thể, đề nghị gia đình liên hệ UBND cấp xã hoặc cơ quan thuế nơi có đất để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường có ý kiến để Công dân được biết, nghiên cứu, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật./.


    [1] Điều 3. Phân cấp thẩm quyền

    2. Thẩm quyền Ủy ban nhân dân tỉnh phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường thực hiện:

    b) Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với cá nhân, cộng đồng dân cư theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Đất đai.

    06/08/2026  |  Hoàng Thùy Linh đã phản hồi